Sự khác biệt giữa Ticagrelor và Clopidogrel

Clopidogrel và Ticagrelor là các chất đối kháng thụ thể P2Y12 có tác dụng ức chế adenosine diphosphate (ADP) trên tấm ván bằng cách ức chế chọn lọc sự gắn kết của adenosine diphosphate (ADP) với thụ thể P2Y12 trên tấm ván của nó và hoạt động của phức hợp glycoprotein thứ cấp GPII.b/III.a qua trung gian ADP.

Cả hai đều là thuốc chống kết tập tiểu cầu được sử dụng phổ biến trên lâm sàng, có thể được sử dụng để ngăn ngừa huyết khối ở bệnh nhân bị đau thắt ngực ổn định mãn tính, hội chứng động mạch vành cấp tính và đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Vậy sự khác biệt là gì?

1, Thời điểm bắt đầu

Ticagrelor có hiệu quả hơn, và đối với bệnh nhân mắc hội chứng động mạch vành cấp, thuốc có thể nhanh chóng có tác dụng ức chế sự kết tập mảng bám, trong khi Clopidogrel kém hiệu quả hơn.

2, Lấy tần suất liều lượng

Thời gian bán hủy của Clopidogrel là 6 giờ, trong khi thời gian bán hủy của Ticagrelor là 7,2 giờ.

Tuy nhiên, các chất chuyển hóa có hoạt tính của Clopidogrel liên kết không thể đảo ngược với đối tượng P2Y12, trong khi đối tượng Ticagrelor và P2Y12 lại có thể đảo ngược.

Do đó, Clopidogrel được uống một lần một ngày, trong khi Ticagrelor được dùng hai lần một ngày.

tin322

3, Tác dụng kháng tiểu cầu

Thuốc kháng tiểu cầu của Ticagrelor có hiệu quả cao hơn và các nghiên cứu cho thấy Ticagrelor không có sự khác biệt trong việc giảm tử vong do tim mạch và nhồi máu cơ tim, cao hơn nhóm Clopidogrel và trong đột quỵ.

Dựa trên lợi ích của việc điều trị bằng Ticagrelor đối với bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp tính (ACS), các hướng dẫn liên quan trong và ngoài nước khuyến cáo sử dụng Ticagrelor để điều trị tấm kháng tiểu cầu ở bệnh nhân ACS. Trong hai hướng dẫn chính thức của Hiệp hội Tim mạch Châu Âu (Hướng dẫn ESC NSTE-ACS 2011 và Hướng dẫn STEMI 2012), Clopidogrel chỉ có thể được sử dụng ở những bệnh nhân không thể điều trị bằng Ticagrelor.

4,Nguy cơ chảy máu

Nguy cơ chảy máu khi sử dụng Ticagrelor lâu dài cao hơn một chút so với Clopidogrel, nhưng nguy cơ chảy máu tương tự khi sử dụng ngắn hạn.

Các nghiên cứu của KAMIR-NIH dựa trên dân số Đông Á cho thấy nguy cơ xuất huyết TIMI cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân ≥ 75 tuổi so với Clopidogrel. Do đó, đối với bệnh nhân ACS ≥ 75 tuổi, nên chọn Clopidogrete làm thuốc ức chế P2Y12 ưu tiên trên cơ sở aspirin.

Liệu pháp điều trị tiểu cầu kháng tiểu cầu cho những bệnh nhân có số lượng tiểu cầu nhỏ thấp cũng nên tránh lựa chọn Ticagrelor.

tin tức3221

5、Các phản ứng có hại khác

Các phản ứng bất lợi được báo cáo phổ biến nhất ở những bệnh nhân điều trị bằng Ticagrelor là khó thở, bầm tím và chảy máu cam, xảy ra với tỷ lệ cao hơn ở nhóm Clopidogrel.

6、Tương tác thuốc

Clopidogrel là một loại thuốc tiền thượng hạng, được chuyển hóa một phần bởi CYP2C19 dưới dạng chất chuyển hóa có hoạt tính và dùng thuốc ức chế hoạt động của enzyme này có thể làm giảm mức độ Clopidogrel được chuyển thành chất chuyển hóa có hoạt tính. Do đó, không nên sử dụng kết hợp các chất ức chế CYP2C19 mạnh hoặc trung bình như omeprazole, Esomeprazole, fluoronazole, voliconazole, fluoxetine, fluorovolsamine, cycloproxacin, camasi.

Ticagrelor được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A4 và một phần nhỏ được chuyển hóa bởi CYP3A5. Việc sử dụng kết hợp các chất ức chế CYP3A có thể làm tăng Cmax và AUC của ticagrelor. Do đó, nên tránh sử dụng kết hợp ticagrelor với các chất ức chế CYP3A mạnh như ketoconazol, itraconazol, voriconazol, clarithromycin, v.v.. Tuy nhiên, việc sử dụng kết hợp chất cảm ứng CYP3A có thể làm giảm Cmax và AUC của ticagrelor tương ứng. Do đó, nên tránh sử dụng kết hợp các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A, như dexamethasone, phenytoin natri, phenobarbital và carbamazepine.

7. Điều trị kháng tiểu cầu ở bệnh nhân suy thận

PLATO, trong một nghiên cứu trên bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp tính kèm suy thận, cho thấy creatinine huyết thanh tăng đáng kể ở nhóm ticagrelor so với clopidogrel; Phân tích sâu hơn trên bệnh nhân điều trị bằng ARB cho thấy creatinine huyết thanh tăng 50% >, tác dụng phụ liên quan đến thận. các biến cố và tác dụng phụ liên quan đến chức năng thận ở nhóm ticagrelor cao hơn đáng kể so với nhóm clopidogrel. Do đó, clopidogrel + aspirin nên là lựa chọn đầu tiên cho bệnh nhân suy thận.

8. Điều trị kháng tiểu cầu ở bệnh nhân gút/tăng acid uric máu

Sử dụng ticagrelor kéo dài đã được chứng minh là làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút. Bệnh gút là một phản ứng bất lợi thường gặp khi điều trị bằng ticagrelor, có thể liên quan đến tác dụng của các chất chuyển hóa có hoạt tính của ticagrelor lên chuyển hóa axit uric. Vì vậy clopidogrel là liệu pháp kháng tiểu cầu tối ưu cho bệnh gút /bệnh nhân tăng acid uric máu.

9、Điều trị kháng tiểu cầu trước CABG (ghép bắc cầu động mạch vành)

Bệnh nhân được lên lịch CABG đang dùng aspirin liều thấp (75 đến 100 mg) không cần dừng lại trước phẫu thuật; Bệnh nhân dùng thuốc ức chế P2Y12 nên cân nhắc ngừng ticagrelor trong ít nhất 3 ngày và clopidogrel trong ít nhất 5 ngày trước phẫu thuật.

10, Clopidogrel có độ phản ứng thấp

Khả năng phản ứng thấp của tiểu cầu với clopidogrel có thể dẫn đến thời gian thiếu máu cục bộ. Để khắc phục khả năng phản ứng thấp của clopidogrel, việc tăng liều clopidogrel hoặc thay thế bằng ticagrelor là những lựa chọn phổ biến.

 

Tóm lại, ticagrelor tác dụng nhanh và có tác dụng ức chế mạnh hơn. Trong điều trị hội chứng mạch vành cấp tính, ticagrelor có tác dụng chống huyết khối tốt hơn, có thể làm giảm tỷ lệ tử vong hơn nữa, nhưng nó có nguy cơ chảy máu cao hơn và có các phản ứng bất lợi cao hơn như khó thở, nhiễm trùng, nhịp tim chậm, bệnh gút, v.v. so với clopidogrel.


Thời gian đăng: 22-03-2021